VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN LOGISTICS VIỆT NAM

VIETNAM LOGISTICS RESEARCH AND DEVELOPMENT INSTITUTE (VLI)

A subsidiary of Vietnam Logistics Business Association - VLA

Địa chỉ:
Điện thoại: (+84) 28 7301 8689

Tranh chấp về giá trị pháp lý của hợp đồng chưa ký (dự thảo hợp đồng), quan hệ với hợp đồng đã ký, và áp dụng “thói quen” 

vlimonamedia

13/05/2026

1. Tóm tắt nội dung vụ tranh chấp

Ngày 10/12/2023, Nguyên đơn (một doanh nghiệp giao nhận) và Công ty Cổ phần Thương mại KT.TL.V (“TL Cũ”) – tên của công ty trước khi đổi thành  Công ty Cổ phần TL.V (“TL Mới” – Bị đơn ) ký Hợp đồng số 07/HĐ/2023 về  giao nhận vận chuyển hàng hóa xuất khẩu (“Hợp đồng 07”). Hai Bên đã  thực hiện xong hợp đồng này mà không có bất kỳ khiếu nại nào. Đến tháng 3/2024, TL Cũ đề nghị ký lại hợp đồng và thực hiện công việc trên thực tế với tên mới là Công ty Cổ phần TL.V (cũng là tên của Bị đơn trong Đơn khởi kiện). Theo Nguyên đơn, ngày 20/5/2024, Nguyên đơn gửi email nội dung đã thống nhất của dự thảo hợp đồng số 08/HĐ/2024 (“Hợp đồng 08”) và ký bản cứng dự thảo hợp đồng gửi cho Bị đơn nhưng Bị đơn không ký; Nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ giao nhận vận chuyển lô hàng xuất khẩu theo dự thảo hợp đồng đã thống nhất nhưng Bị đơn không thanh toán đúng hạn và vẫn chưa trả xong toàn bộ số công nợ (tiền cước vận chuyển)  mặc dù hàng đã được giao cho người nhận Tashkent.

Bị đơn cho rằng giữa Nguyên đơn và Bị đơn chưa từng ký kết hợp đồng cũng như không có bất kỳ thỏa thuận nào về việc chuyển giao nghĩa vụ từ Công ty TL Cũ sang cho Bị đơn nhưng đã có giao dịch thực tế về việc vận chuyển hàng hóa giữa hai bên; Nguyên đơn thiếu mẫn cán, gây hư hỏng toàn bộ hàng hóa, cam kết bồi thường nhưng không thực hiện; tổng thiệt hại là 197.083 USD. Bị đơn phải trả tiền cước vận chuyển là 4.705.974.628 đồng, Nguyên đơn có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Bị đơn là 197.083 USD, tương đương 5.234.918.646 đồng. Như vậy, lẽ ra sau khi bù trừ, Nguyên đơn còn phải thanh toán thêm cho Bị đơn phần chênh lệch 528.944.018 đồng. Bị đơn chỉ yêu cầu cấn trừ ngang bằng. Về tiền lãi chậm thanh toán, sau khi cấn trừ nghĩa vụ, Bị đơn không còn phải thanh toán thêm bất kỳ khoản tiền nào. Vì vậy, Nguyên đơn yêu cầu tiền lãi là không có cơ sở pháp lý. Hai Bên phát sinh tranh chấp về số tiền cước vận chuyển đến ngày 24/7/2024 là 4.705.974.628 đồng. Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn a)  thanh toán 100% số công nợ là  4.705.974.628 đồng; b)  thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán theo trên lãi suất nợ quá hạn của Vietcombank, BIDV, AGRI Bank (tạm tính 14,5% là 595.181.073 đồng; c) tiền phí theo hợp đồng pháp lý số 013/HĐDVPL ngày 27/03/2025 là 120.000.000 đồng. Tại Phiên họp giải quyết tranh chấp, Nguyên đơn rút yêu cầu đòi tiền lãi do chậm thanh toán và sửa yêu cầu đòi tiền phí theo hợp đồng pháp lý là 75.600.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán là 4.781.574.628 đồng.

Các Bên tranh chấp về (i) giá trị pháp lý của hợp đồng chưa được ký (dự thảo hợp đồng), quan hệ với hợp đồng đã ký, áp dụng “thói quen”; (ii) thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài đối với quan hệ trong vận đơn, quá trình thực hiện hợp đồng và bản chất giao dịch giữa Nguyên đơn và Bị đơn; (iii) đòi bồi thường hư hỏng hàng hóa; (iv) quyền bù trừ nghĩa vụ thanh toán; (v) đòi tiền cước vận chuyển; và (vi) tiền lãi.    

Dưới đây là tranh chấp về giá trị pháp lý của hợp đồng chưa ký (dự thảo hợp đồng), quan hệ với hợp đồng đã ký, và áp dụng “thói quen”.  

2. Quan điểm của Nguyên đơn

Về hiệu lực của Hợp đồng 08, việc Bị đơn cho rằng chỉ hình thành quan hệ về vận chuyển mà không đồng nghĩa với việc Bị đơn chấp nhận toàn bộ điều khoản trong Dự thảo hợp đồng nguyên tắc 08 và vì thế chỉ áp dụng các quy định pháp lý hiện hành và thông lệ quốc tế về vận tải hàng hoá là không đúng vì các lẽ sau: (i) các Bên đã có mối quan hệ giao dịch trong thời gian dài, mặc dù pháp nhân trước đó là TL Cũ nhưng TL Mới cũng đều được đại diện và làm việc với Nguyên đơn bởi ông PVL và hai bên vẫn thực hiện công việc theo thói quen cũ thông qua việc Bị đơn vẫn yêu cầu nguyên đơn gửi hàng đến khách hàng mà không có bất kỳ lưu ý gì, các kênh giao tiếp từ email, điện thoại đến nhân viên không có gì thay đổi mà theo thói quen từ trước; (ii) chính nhân viên của Bị đơn yêu cầu Nguyên đơn thực hiện việc chuyển pháp nhân mới, và suốt quá trình đó mọi hoạt động, trao đổi giữa hai bên đều như cũ, cho đến tận cuộc họp ngày 03 tháng 06 năm 2024, cũng vẫn họp trên tinh thần công việc như đã triển khai từ trước; (iii) căn cứ Điều 12 Luật thương mại 2005 về Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các Bên: “Trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật”. Ngày 20/05/2024, Nguyên đơn gửi email hợp đồng mới theo yêu cầu của Bị đơn đồng thời gửi hợp đồng bản cứng đến Bị đơn theo những đề xuất mà Bị đơn và Nguyên đơn đã thống nhất từ ngày 16/05/2024. Việc Bị đơn không phản hồi chính thức và không có bất kỳ phản đối nào trong khi các hoạt động gửi hàng vẫn diễn ra theo thói quen cũ chứng tỏ rõ ràng được yếu tố “thói quen thương mại” quy định tại Luật thương mại 2005 (“Luật TM”) và căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 393 Bộ luật Dân sự 2015 (“BLDS”) về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng: “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”; (iv) ngay cả khi Nguyên đơn phát hành Giấy báo nợ (Debit Note) ngày 03/04/2024 cho Bị đơn khi Bị đơn chưa ký Hợp đồng 08 nhưng Bị đơn vẫn chấp nhận; (v) Hơn nữa, phía Bị đơn đã xác nhận tất cả các hóa đơn giá trị gia tăng do Nguyên đơn phát hành mà không có phản đối, tức là dịch vụ đã được xác nhận, và ít nhất theo các thói quen đã được xác lập tại Hợp đồng nguyên tắc 07 được ký ngày 10/12/2023 giữa Nguyên đơn và TL Cũ; và (vi) Chưa kể, các lô hàng đều được Nguyên đơn phát hành Vận đơn cho Bị đơn đúng quy định. Căn cứ khoản 2 Điều 148 Bộ luật hàng hải Việt Nam 2015 (“BLHH”) thì: “Vận đơn là chứng từ vận chuyển làm bằng chứng về việc người vận chuyển đã nhận hàng hóa với số lượng, chủng loại, tình trạng như được ghi trong vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng; bằng chứng về sở hữu hàng hóa dùng để định đoạt, nhận hàng và là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển”. Vì vậy, việc Bị đơn cho rằng Hợp đồng nguyên tắc 08 chưa phát sinh hiệu lực pháp lý là một nhận định không có căn cứ. Nguyên đơn khẳng định Hợp đồng nguyên tắc 08 đã phát sinh hiệu lực pháp lý. Và thậm chí cho dù Bị đơn không đồng ý điều khoản thanh toán tại Dự thảo Hợp đồng nguyên tắc 08 thì các điều khoản cũ còn lại dựa trên Hợp đồng nguyên tắc 07 đã phát sinh hiệu lực với các căn cứ pháp lý nêu trên. Do đó Nguyên đơn đề nghị Hội đồng Trọng tài công nhận Hợp đồng nguyên tắc 08 hoặc ít nhất Hợp đồng nguyên tắc 07 có hiệu lực theo các quy định pháp lý nêu trên.   

3. Quan điểm của Bị đơn

Bị đơn trình bày rằng ngày 10/12/2023, Công ty TL Cũ ký Hợp đồng nguyên tắc 07 với Nguyên đơn để vận chuyển hàng hóa sang đối tác nước ngoài. Ngày 19/01/2024, Công ty TL cũ ký hợp đồng mua bán chuối với The B.Group – đối tác nhập khẩu tại Tashkent, Uzbekistan. Như vậy, toàn bộ chuyến hàng chuối được vận chuyển từ Việt Nam đi Tashkent là trên cơ sở Hợp đồng nguyên tắc 07 ký kết giữa Nguyên đơn và Công ty TL Cũ. Trên cơ sở hợp đồng này, Nguyên đơn tiến hành xuất hàng theo các vận đơn phát hành cho Bị đơn. Ngày 03/04/2024, Nguyên đơn xuất Giấy báo nợ (Debit Note) đầu tiên cho Bị đơn. Tuy vậy, kể từ thời điểm này, giữa Nguyên đơn và Bị đơn chưa từng ký kết hợp đồng cũng như không có bất kỳ thỏa thuận nào về việc chuyển giao nghĩa vụ từ Công ty TL Cũ sang cho Bị đơn. Ngày 16/05/2024, Nguyên đơn gửi bản dự thảo Hợp đồng nguyên tắc 08 qua email cho Bị đơn. Tuy vậy, do các Bên không thống nhất về một số điều khoản nên hợp đồng này chưa được ký kết. Hợp đồng nguyên tắc 08 chưa phát sinh hiệu lực pháp lý vì không đáp ứng điều kiện về hình thức theo Điều 117 BLDS. Mặc dù, không thừa nhận hiệu lực và sự giao kết Hợp đồng nguyên tắc 08, Bị đơn thừa nhận thực tế có việc giao hàng và vận chuyển hàng hóa giữa Bị đơn và Nguyên đơn.

Về hiệu lực của Hợp đồng nguyên tắc 08:  1.  Điều kiện có hiệu lực của giao dịch theo BLDS và Luật TM, theo Điều 116, Điều 117 BLDS, một giao dịch dân sự có hiệu lực phải đồng thời đáp ứng: (i) chủ thể; (ii) nội dung, mục đích và (iii) hình thức, trong trường hợp pháp luật có quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực. Theo khoản 2 Điều 27 Luật TM, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Trong vụ việc này, Hợp đồng nguyên tắc 08 được soạn thảo với mục đích điều chỉnh quan hệ mua bán – vận chuyển hàng hóa xuyên biên giới, nên rõ ràng đây là loại hợp đồng mà pháp luật yêu cầu phải có hình thức bằng văn bản có chữ ký của các Bên. Như đã trình bày trong Bản tự bảo vệ ngày 22/ 08/2025, Hợp đồng nguyên tắc 08 chỉ dừng lại ở bản dự thảo do Nguyên đơn gửi qua email, hai bên tiếp tục trao đổi, thương lượng nhưng Bị đơn chưa từng ký kết văn bản này. Do đó, Hợp đồng nguyên tắc 08 không đáp ứng điều kiện về hình thức, nên không thể coi là hợp đồng đã giao kết hợp pháp;  2. việc viện dẫn “thói quen thương mại” và “sự im lặng coi như chấp nhận” của Nguyên đơn là không phù hợp. Trong Văn bản nêu ý kiến, Nguyên đơn cho rằng: Do hai bên đã có “quan hệ giao dịch lâu dài” từ thời TL Cũ nên thói quen thương mại giữa  Nguyên đơn và TL Cũ được “mặc nhiên” áp dụng cho Bị đơn là TL Mới. Về việc Bị đơn không phản hồi dự thảo Hợp đồng nguyên tắc 08 được coi là im lặng chấp nhận giao kết hợp đồng theo khoản 2 Điều 393 BLDS, Bị đơn không đồng ý với lập luận này, vì: Thứ nhất, theo Điều 12 Luật TM, thói quen thương mại chỉ được áp dụng khi: (i) đã được thiết lập giữa các bên; (ii) không trái với quy định của pháp luật. Việc trước đây Nguyên đơn giao dịch với một pháp nhân khác (TL Cũ) không làm phát sinh thói quen thương mại ràng buộc đối với một pháp nhân mới là Bị đơn. Hai công ty là hai chủ thể pháp lý độc lập, có mã số thuế, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp khác nhau; pháp luật không có quy định nào buộc Bị đơn phải “kế thừa” mọi điều khoản, thói quen của hợp đồng mà mình không phải là bên ký kết. Thứ hai, khoản 2 Điều 393 BLDS chỉ cho phép coi sự im lặng là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng khi có thỏa thuận trước giữa các bên hoặc có thói quen đã được xác lập giữa các bên. Như đã phân tích, giữa Nguyên đơn và Bị đơn chưa hề có bất kỳ hợp đồng nào đã ký, cũng không có thỏa thuận nào trước đó quy định “im lặng coi như chấp thuận”. Toàn bộ lập luận của Nguyên đơn về “im lặng là chấp nhận” đều dựa trên quan hệ với TL Cũ, chứ không phải với Bị đơn trong vụ án này. Do đó, việc Nguyên đơn cho rằng “Bị đơn im lặng tức là đồng ý với Hợp đồng nguyên tắc 08” là suy diễn chủ quan, trái với quy tắc giao kết hợp đồng theo BLDS. Hợp đồng nguyên tắc 08 chưa có hiệu lực thì không cần xét đến nội dung. Một khi Hợp đồng nguyên tắc 08 không đáp ứng điều kiện về hình thức, thì theo khoản 2 Điều 117 BLDS, giao dịch không có hiệu lực pháp luật. Khi đó: Nguyên đơn không thể dựa vào các điều khoản trong dự thảo Hợp đồng nguyên tắc 08 (ví dụ các điều khoản về thời gian vận chuyển, giới hạn trách nhiệm, lãi chậm trả…) để làm căn cứ yêu cầu Bị đơn phải thanh toán; không cần thiết phải đi sâu xem xét nội dung điều khoản của một bản dự thảo chưa thành hợp đồng. Quan hệ pháp lý giữa Bị đơn và Nguyên đơn chỉ có thể được xác định trên cơ sở: (i) các hợp đồng vận chuyển cụ thể thể hiện qua vận đơn đường biển; và (ii) các quy định bắt buộc của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế về vận tải hàng hóa. Bị đơn giữ nguyên quan điểm: Hợp đồng nguyên tắc 08 chưa phát sinh hiệu lực, do đó, những lập luận của Nguyên đơn dựa trên hợp đồng này đều không có giá trị pháp lý.

4. Phân tích và quyết định của Hội đồng Trọng tài (“HĐTT”)

Về quá trình thực hiện giao dịch và bản chất giao dịch giữa Nguyên đơn và Bị đơn 

Các Bên có đề cập đến Hợp đồng nguyên tắc 07 (ký giữa Nguyên đơn và Bị đơn) và Bộ Vận đơn của các lô hàng được Nguyên đơn phát hành. Tuy vậy, đối với Hợp đồng nguyên tắc 07, Nguyên đơn đã khẳng định rằng trong giao dịch đối với hợp đồng này, “các bên đã hoàn thành và không có tranh chấp” tại Văn bản phản hồi số 002/2025/YKGT ngày 11/12/2025 của Nguyên đơn. Vì vậy, Hội đồng Trọng tài trong Vụ tranh chấp này không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng nguyên tắc 07. Việc đề cập đến Hợp đồng nguyên tắc 07 và Bộ Vận đơn trong phán quyết trọng tài này không nhằm mục đích tuyên bố thẩm quyền của HĐTT, mà chỉ phục vụ như một trong các chứng cứ các Bên đã đệ trình trong quá trình giải quyết tranh chấp. Vì vậy, để xác định cơ sở giải quyết Vụ tranh chấp, Hội đồng Trọng tài xem xét tính hiệu lực của Hợp đồng nguyên tắc 08.  Theo Điều 117 BLDS, một giao dịch dân sự có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về: năng lực chủ thể giao kết, ý chí hoàn toàn tự nguyện, nội dung và mục đích không trái đạo đức và pháp luật, và hình thức giao dịch phù hợp yêu cầu pháp luật nếu có.  Hợp đồng nguyên tắc 08 chưa được các Bên ký kết bằng văn bản sau khi Nguyên đơn gửi bản dự thảo hợp đồng này cho Bị đơn. Mặc dù Nguyên đơn cho rằng các bên giao kết Hợp đồng nguyên tắc 08 dựa trên “thói quen thương mại,” Nguyên đơn không chứng minh được hay chỉ ra thực tế có tập quán thương mại hay thói quen thương mại giữa các bên về việc im lặng là đồng ý giao kết hay giữa các bên đã tồn tại các hợp đồng khác cũng được các bên thừa nhận hiệu lực dựa trên sự im lặng. Bị đơn khẳng định lại không xác nhận Hợp đồng nguyên tắc 08 trong khi đó Nguyên đơn không cung cấp thêm được tài liệu hay chứng cứ khác xác nhận là Bị đơn đã đồng ý với nội dung của Hợp đồng nguyên tắc 08. Hội đồng Trọng tài nhận thấy bản Hợp đồng nguyên tắc 08 chưa có đầy đủ chữ ký của các bên, chưa có chứng cứ nào thể hiện các bên đã đồng ý giao kết với nội dung của bản Hợp đồng nguyên tắc 08 nên Hợp đồng nguyên tắc 08 không có hiệu lực ràng buộc các bên và không thể là cơ sở để giải quyết Vụ tranh chấp này. 

Như vậy, khoản tiền Nguyên đơn yêu cầu (4.705.974.628 VND) là phí dịch vụ phát sinh từ nghĩa vụ thanh toán của khách hàng theo khoản 1, Điều 85 của Luật TM và mối quan hệ này là quan hệ hợp đồng được xác lập dựa trên hành vi cụ thể theo khoản 1, Điều 74 của Luật TM liên quan đến dịch vụ logistics theo Điều 233 của Luật TM. Do đó, yêu cầu của Nguyên đơn đòi Bị đơn trả số tiền nêu trên được Hội đồng Trọng tài chấp nhận.

5. Phán quyết Trọng tài: 5.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Buộc Bị đơn – [Công ty …], phải trả cho Nguyên đơn – [Công ty giao nhận vận tải] tổng số tiền nợ gốc là 4.705.974.628 đồng, tương ứng số tiền công nợ là 4.705.974.628 đồng; 5.2. Bác yêu cầu của Nguyên đơn về chi phí pháp lý; 5.3. Không xem xét yêu cầu của Nguyên đơn về việc thanh toán lãi do chậm thanh toán; 5.4. Không xem xét yêu cầu bù trừ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của Bị đơn; và 5.5. Bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả cho Nguyên đơn số tiền phí trọng tài là […] đồng. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày lập Phán quyết Trọng tài, Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho Nguyên đơn những khoản tiền nêu  trên đây. Trong trường hợp chậm thanh toán, Bị đơn phải trả cho Nguyên đơn tiền lãi chậm trả với lãi suất ở mức 10%/năm tương ứng với thời gian chậm trả và số tiền chậm trả căn cứ theo Điều 357 BLDS. Phán quyết Trọng tài này được lập thành 03 bản tại TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam. Phán quyết Trọng tài này là chung thẩm và có hiệu lực từ ngày lập – tức ngày ../../2026.

Luật sư Ngô Khắc Lễ