VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN LOGISTICS VIỆT NAM

VIETNAM LOGISTICS RESEARCH AND DEVELOPMENT INSTITUTE (VLI)

A subsidiary of Vietnam Logistics Business Association - VLA

Địa chỉ:
Điện thoại: (+84) 28 7301 8689

Tranh chấp về thế quyền và quyền khởi kiện  

vlimonamedia

10/07/2026

1. Tóm tắt nội dung vụ tranh chấp

Công ty Bảo hiểm (“BH”) và Công ty Xuất nhập khẩu (“XNK”) ký hợp đồng bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu. BH đã cấp đơn bảo hiểm hàng hóa cho lô hàng cuộn kháng điện và phụ kiện đi kèm cho XNK và sau đó có cấp giấy sửa đổi bổ sung. XNK và Công ty giao nhận (“GN”) đã ký hợp đồng giao nhận vận chuyển hàng hóa, theo đó GN làm đại diện thực hiện việc vận chuyển hàng hóa và dịch vụ giao nhận từ nước ngoài về cảng Việt Nam cho lô hàng các cuộn kháng điện và phụ kiện đi kèm. Sau khi ký Hợp đồng giao nhận vận chuyển với XNK, GN đã ký Hợp đồng ủy thác Chi nhánh Công ty DV (“DV”) cung cấp các dịch vụ vận chuyển, khai hải quan, chằng buộc hàng hóa từ Scarborough, Ontario, Canada về cảng thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. hàng hóa bao gồm 17 container/75 kiện cuộn kháng điện và phụ kiện đi kèm được vận chuyển từ kho người bán tại Scarborough, Ontario, Canada tới cảng Montreal, Canada và từ cảng Montreal, Canada về cảng TP Hồ Chí Minh, Việt Nam trên tàu Maersk Penang. Khi hàng hóa được chuyển tải tại Hà Lan, có 02 cuộn kháng điện số 413100020-10, S/N 5016851 (kiện hàng số 2/75) và 413100020-30, S/N 5017940 (kiện hàng số 49/75) thuộc container số TRIU779547 bị rơi khỏi xe vận chuyển và nằm trên đường trong quá trình vận chuyển container từ bãi tàu APM đến bãi tàu Delta Terminal tại Cảng Rotterdam. Cả hai cuộn kháng điện trong tình trạng bị tổn thất nghiêm trọng. Sau sự cố, 02 cuộn kháng điện được gia cố lại và vận chuyển về Việt Nam. Sau khi xảy ra sự cố trên, GN đã có văn bản gửi tới DV khiếu nại và yêu cầu bồi thường với tổng số tiền là 815.000 USD và DV đã có văn bản phản hồi. Theo Biên bản giám định (Survey Report) của Công ty Giám định (“NSC”), căn cứ văn bản của Nhà sản xuất gửi cho các bên liên quan và XNK, tổn thất của các cuộn kháng điện 413100020-10, S/N 5016851 (kiện số 2/75) và 413100020-30, S/N 5017940 (kiện hàng số 49/75) đến mức không thể đưa vào vận hành. Sự va đập đã làm gãy các gói sợi dây thủy tinh tại nhiều khu vực từ bên ngoài đến bên trong kiện hàng. Những tổn thất này không thể sửa chữa, khắc phục và làm lộ các gói sợi dây thủy tinh mà dần dần dẫn đến việc giảm giá trị và không hoạt động được như mong đợi. Tổn thất này cũng bao gồm việc gãy kiềng gia cố, thanh nối nằm ngang và thanh nối nằm dọc. Những bộ phận này cung cấp tính toàn vẹn cơ khí cho thiết bị và không thể sửa chữa, duỗi thẳng được do tổn thất của 02 cuộn kháng điện. Các cuộn kháng điện này là thiết bị cao cấp và sẽ được vận hành trong hệ thống truyền dẫn mà yêu cầu phải có độ tin cậy tối đa của thiết bị.      
02 Cuộn kháng điện bị tổn thất được bán thanh lý cho XNK với số tiền 300.000.000 VND và được BH khấu trừ vào số tiền bồi thường hàng hóa. BH với tư cách là người bảo hiểm hàng hóa cho lô hàng đã bồi thường cho XNK số tiền là 16.318.800.000 VND và được XNK chuyển quyền thu đòi người thứ ba đối với tổn thất nêu trên. BH đã ủy quyền cho Công ty TL (“TL”) khiếu nại người thứ ba để thu đòi số tiền bồi thường nêu trên. TL đã có văn bản khiếu nại GN để yêu cầu bồi thường số tiền trên nhưng chưa nhận được bồi thường từ GN. Căn cứ vào Hợp đồng dịch vụ giao nhận vận tải giữa DV và GN thì TL đã khiếu nại tới DV đòi bồi thường thiệt hại nêu trên nhưng chưa nhận được bồi thường. Do đó, BH đã khởi kiện Bị đơn (GN) tại trọng tài.  

Các bên tranh chấp về thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài, trách nhiệm bồi thường hư hỏng hàng hóa, trách nhiệm chứng minh nguyên nhân tổn thất, giới hạn trách nhiệm và từ bỏ giới hạn trách nhiệm; thế quyền và quyền khởi kiện; thời hiệu khởi kiện có áp dụng cho đơn khởi kiện bổ sung hay không, biên bản giám định không nêu nguyên nhân tổn thất, quyền thỏa thuận từ bỏ khiếu nại. Dưới đây là tranh chấp về thế quyền và quyền khởi kiện.

2. Quan điểm của Nguyên đơn  

Nguyên đơn có quyền khởi kiện và đã được thế quyền hợp lệ. Cơ sở khởi kiện của BH là theo Điều 05 của Hợp đồng giao nhận vận chuyển hàng hóa giữa GN và XNK thì trách nhiệm của Bên B – GN là: “Mọi mất mát, hư hỏng hàng hóa và việc đảm bảo lịch trình chuyên chở sẽ do bên B thực hiện”. Theo Biên bản giám định của NSC thì 02 cuộn kháng điện nêu trên đã bị tổn thất toàn bộ và không thể đưa vào sử dụng được. Quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam về giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển là 02 đơn vị tính toán cho mỗi ki-lô-gam trọng lượng cả bì nên BH yêu cầu GN bồi thường hư hỏng hàng hóa nêu trên cho BH với số tiền là 32.433 Kg x 02 SDR = 64.866 SDR  = 1.970.411.337 VND và tiền lãi phát sinh kể từ ngày biên nhận thế quyền đến ngày Hội đồng Trọng tài ra Phán quyết trọng tài và bổ sung số tiền đòi bồi thường là 14.348.388.663 VND và tiền lãi phát sinh kể từ ngày biên nhận thế quyền đến ngày Hội đồng Trọng tài ra Phán quyết trọng tài.

3. Quan điểm của Bị đơn

Căn cứ vào “Văn bản ghi ý kiến” của Bị đơn gửi Hội đồng Trọng tài tại Phiên họp giải quyết Vụ tranh chấp, Bị đơn vẫn giữ quan điểm Nguyên đơn không đủ điều kiện khởi kiện vì “XNK từ bỏ khiếu nại yêu cầu bồi thường đối với GN”“văn bản thế quyền không hợp pháp, không có giá trị pháp lý”; việc xác định lỗi gây ra thiệt hại mà BH căn cứ vào khoản 5.2 Điều 5 Hợp đồng giữa GN và XNK là thiếu cơ sở; số tiền BH yêu cầu bồi thường (16.318.800.000 VND) là không phù hợp theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam, đã hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu khoản bồi thường 14.348.388.663 VND.

Nguyên đơn không có quyền khởi kiện vì XNK ký hợp đồng bảo hiểm với BH. Bị đơn yêu cầu Nguyên đơn chứng minh quyền khởi kiện. Đơn khởi kiện bổ sung đã hết thời hiệu. Bị đơn không có lỗi trong việc thực hiện hợp đồng, đề nghị Nguyên đơn chứng minh Bị đơn đã có lỗi gây ra tổn thất. Bị đơn đã chuyển toàn bộ quyền thực hiện hợp đồng cho DV và Công ty này đã thuê vận chuyển toàn bộ lô hàng. Về biên bản giám định, Nguyên đơn đã không làm ngay tại nơi xảy ra tổn thất. Các biên bản giám định không nêu nguyên nhân gây ra tổn thất. Biên bản làm tại TP. Hồ Chí Minh có nêu nguyên nhân gây ra tổn thất nhưng không phải là biên bản giám định làm tại nơi xảy ra tổn thất nên không thể biết được nguyên nhân.

Nguyên đơn không có quyền được thế quyền nên không có quyền khởi kiện vì theo “Biên bản làm việc” giữa XNK (Bên A) và GN (Bên B), phần 4 nêu: “… Sau khi xem xét biên bản giám định sơ bộ của Halyard Survey …, bên B đã thông báo ngay cho bên A và hai bên nhận thấy rủi ro là ngoài tầm kiểm soát và không phải lỗi cố ý gây ra của bên B nên bên A đã đồng ý không khiếu nại bên B mà đề nghị bên B gửi văn bản khiếu nại bên vận chuyển trực tiếp để nhanh chóng thu thập các chứng từ cho thủ tục khiếu nại bảo hiểm hàng hóa…” đã thể hiện Bị đơn đã được XNK đồng ý không khiếu nại đòi bồi thường theo hợp đồng. “Giấy biên nhận và thế quyền” của XNK do ông LSH ký là không hợp lệ vì đã vượt quá thẩm quyền do ông H chỉ được ủy quyền ký kết có giá trị tối đa là 500.000.000 VND. Vì vậy, văn bản này không có có giá trị thi hành.        

4. Phân tích của Hội đồng Trọng tài 

Về yêu cầu của Bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung cũng như yêu cầu khởi kiện trước đó của Nguyên đơn bởi không có cơ sở trong hợp đồng về điều khoản bồi thường; Đơn khởi kiện bổ sung đã hết thời hiệu, Hội đồng Trọng tài nhận thấy

Nguyên đơn đã thế quyền hợp lệ để đòi bồi thường; ký thế quyền là nghĩa vụ của người được bảo hiểm. “Giấy biên nhận và thế quyền” Của XNK do ông LSH ký là hợp lệ vì đây không phải là “hợp đồng, thanh lý hợp đồng” và Nguyên đơn đã thực hiện đúng Điều 32.1 “Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển” (Ban hành kèm theo quyết định của Tổng giám đốc BH: “Sau khi thanh toán bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm, mọi khoản khiếu nại và quyền khiếu nại của Người được bảo hiểm đối với những người thứ ba đều được chuyển cho Người bảo hiểm mà giới hạn là số tiền đã bồi thường. Ngay khi nhận được tiền bồi thường của Người bảo hiểm, Người được bảo hiểm có trách nhiệm chuyển cho Người bảo hiểm mọi tài liệu và bằng chứng của họ và phải làm đầy đủ thủ tục đáp ứng yêu cầu thực hiện quyền truy đòi của Người bảo hiểm”.          

Nguyên đơn đã được thế quyền phù hợp với quy định của pháp luật như phân tích ở trên.  Điều 05 “Hợp đồng giao nhận, vận chuyển hàng hóa” giữa Bị đơn và XNK nêu trách nhiệm bồi thường của Bên B – XNK – là “Mọi mất mát, hư hỏng hàng hóa và việc đảm bảo lịch trình chuyên chở sẽ do bên B thực hiện”. Như vậy,  đã thể hiện căn cứ về trách nhiệm và bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa (nếu có).                      

Hơn nữa, sau khi ký “Biên bản làm việc”, XNK vẫn chuyển quyền (thế quyền) đòi bồi thường hư hỏng hàng hóa cho BH bằng “Giấy biên nhận và thế quyền”.

Vì những lẽ trên, quan điểm của Bị đơn cho rằng Nguyên đơn không đủ điều kiện khởi kiện vì “XNK từ bỏ khiếu nại yêu cầu bồi thường đối với GN” (và căn cứ vào khoản 2Điều 49 Luật kinh doanh Bảo hiểm) là không có cơ sở pháp lý.

Điều 06 của “Hợp đồng giao nhận vận chuyển hàng hóa” giữa XNK và GN quy định: “Trong điều kiện sự thương lượng không thành thì sẽ đưa ra Trung tâm trọng tài quốc tế trực thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam giải quyết. Quyết định của Trọng tài là cuối cùng và ràng buộc cả hai bên …”; BH là người bảo hiểm đã trả tiền cho người được bảo hiểm – XNK – với số tiền là 16.318.800.000 VND và XNK đã chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà XNK đã nhận bồi thường cho BH là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điểu 49 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2010 và Điều 32.1 “Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển” (Ban hành kèm theo quyết định của Tổng giám đốc BH); “Giấy biên nhận thế quyền” do ông LSH – Phó Tổng giám đốc – ký sau khi số tiền bồi thường nêu trên đã được BH chuyển cho XNK; cho đến thời điểm khởi kiện và trong quá trình tố tụng trọng tài, người đại diện theo pháp luật của XNK không phản đối về việc ông H ký “Giấy biên nhận thế quyền”, theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 03 năm 2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài Thương mại, việc ông H ký văn bản nêu trên là hợp lệ. 

5. Phán quyết Trọng tài           

Từ những căn cứ trên đây, Hội đồng Trọng tài quyết định: Buộc Bị đơn phải trả cho Nguyên đơn khoản tiền bồi thường hư hỏng hàng hóa là 16.318.800.000 VND (Bằng chữ: Mười sáu tỷ ba trăm mười tám triệu tám trăm nghìn đồng). Buộc Bị đơn chịu […] VND phí trọng tài. Do Nguyên đơn đã nộp cho TTTT toàn bộ phí trọng tài, Bị đơn có trách nhiệm hoàn trả khoản tiền […] VND cho Nguyên đơn. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày lập Phán quyết Trọng tài này, Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho Nguyên đơn các khoản tiền nêu tại Phán quyết này. Trường hợp, Bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì Bị đơn phải trả tiền lãi cho Nguyên đơn theo mức lãi suất […]. Phán quyết Trọng tài này được lập thành 03 (ba) bản. Phán quyết trọng tài này là chung thẩm, ràng buộc các Bên và có hiệu lực kể từ ngày lập. Địa điểm lập Phán quyết trọng tài này là Hà Nội.  

Ngô Khắc Lễ – VLI