VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN LOGISTICS VIỆT NAM

VIETNAM LOGISTICS RESEARCH AND DEVELOPMENT INSTITUTE (VLI)

A subsidiary of Vietnam Logistics Business Association - VLA

Địa chỉ:
Điện thoại: (+84) 28 7301 8689

BÌNH LUẬN BẢN ÁN VỀ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI (tiếp theo và hết)

vlimonamedia

30/09/2026

Sau khi có bình luận về 6 vấn đề của Bản án dưới đây, người viết nhận được một số phản hồi từ bạn đọc, trong đó có đề nghị tiếp tục cho ý kiến về những vấn đề khác của Bản án – Bản án số 84/2026/KDTM-ST ngày 23/7/2026, thụ lý số 148/2025/TLST-KDTM ngày 18/6/2025 về việc “Tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng vận chuyển” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2532/2026/QĐXXST-KDTM ngày 17/04/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7232/QĐST-KDTM ngày 19/5/2026 giữa các đương sự: Nguyên đơn là Công ty VL và các Bị đơn gồm 05 Công ty giao nhận và 03 Hãng tàu/Đại lý Hãng tàu được xét xử trong các ngày 16/6, 15 và 23/7/2026. Bản án đã gây chú ý của nhiều công ty giao nhận, logistics về nội dung quyết định của Bản án. Với tài liệu, chứng cứ, Bản án, Quyết định kháng nghị phúc thẩm do một bị đơn là doanh nghiệp giao nhận cung cấp, người viết có bình luận dưới đây để doanh nghiệp nêu trên và bạn đọc tham khảo.              

1. Tóm tắt diễn biến vụ kiện
Nguyên đơn: Công ty VL (“VL”) là Người giao hàng (Shipper) ghi trên toàn bộ vận đơn gốc do Người vận chuyển (Hãng tàu) cấp. Bị đơn: Gồm 5 Công ty Giao nhận và 3 Hãng tàu/Đại lý Hãng tàu. Theo Bản án thì những Công ty Giao nhận này ký hợp đồng với VL để cung cấp dịch vụ vận chuyển/ logistics/ đặt chỗ (booking agent) cho VL giai đoạn năm 2022-2025. Vào cuối năm 2024 đến đầu năm 2025, VL xuất khẩu 17 lô hàng cao su (gồm 166 container, trị giá tạm tính là hơn 178 tỷ VNĐ) sang Ningbo, Trung Quốc cho 2 người mua (Người nhận hàng – Consignee) theo điều kiện CIF Ningbo, thanh toán bằng hình thức D/P (100% qua ngân hàng). VL thực hiện đặt chỗ (booking) thông qua 5 Công ty Giao nhận nêu trên. Các Công ty Giao nhận chào giá cước vận chuyển cho VL theo điều kiện CY/CY và cấp Xác nhận đặt chỗ (Booking Confirmation) của Hãng tàu cho VL. Sau khi VL đóng hàng vào container và hoàn tất thủ tục hải quan xuất khẩu, VL ủy quyền cho các Công ty Giao nhận thanh toán cước phí và nhận Vận đơn gốc (Bill of Lading – BL) từ các Hãng tàu, sau đó bàn giao đầy đủ BL gốc lại cho VL.
Khi hàng đến cảng đích (Ningbo), các Hãng tàu đã lần lượt giao toàn bộ 17 lô hàng (166 container hàng) cho 2 Người nhận hàng theo các BL trong khi VL vẫn đang nắm giữ toàn bộ các BL gốc. (2 Người nhận hàng này được cho là đã sử dụng BL gốc giả mạo của Hãng tàu để lấy hàng (thông tin chưa được kiểm chứng).

Đến tháng 5/2025, VL đã nộp đơn khởi kiện cả 5 Công ty Giao nhận và 3 Hãng tàu/Đại lý Hãng tàu tại Tòa án. VL yêu cầu Tòa án buộc các Bị đơn phải liên đới bồi thường 100% giá trị hàng hóa (tương đương hơn 178 tỷ VNĐ) cùng tiền lãi quá hạn phát sinh từ các khoản vay chiết khấu bộ chứng từ mà VL đã thực hiện với các Ngân hàng. VL cho rằng do việc giao hàng trái quy định tại cảng đích dẫn đến Người nhận hàng không thanh toán tiền hàng, nên các Công ty Giao nhận và Hãng tàu phải liên đới bồi thường tiền gốc và tiền lãi phát sinh nêu trên.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Hãng tàu Y đã chủ động thương lượng, bồi thường riêng cho VL đối với 100 container hàng. VL sau đó rút yêu cầu khởi kiện đối với Y và Công ty Giao nhận có liên quan là A. Còn lại 6 bị đơn (4 Công ty Giao nhận và và 2 Hãng tàu/Đại lý hãng tàu) đối với 66 container. Trong đó, Công ty giao nhận TH liên quan đến 20 container (10 container qua Hãng tàu R và 10 container qua Hãng tàu N).
                         
2. Quyết định của Hội đồng xét xử
“Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 148, Điều 152, Điều 153 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015; Điều 360, Điều 361 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử: … 2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty VL:  2.1. Buộc Công ty TH và Công ty H có trách nhiệm liên đới bồi thường cho Công ty VL toàn bộ giá trị 10 (mười) container hàng hoá là 433.650 USD tương đương 11.474.379.000 đồng (theo tỷ giá bán USD đăng trên website của Ngân hàng Vietcombank ngày 13/7/2026 là 26.460 đồng/1USD) và khoản lãi vay Ngân hàng với số tiền là 1.252.813.567 đồng. Tổng giá trị bồi thường là 12.727.192.567 đồng. 2.2. Buộc Công ty TH và Công ty R có trách nhiệm liên đới bồi thường cho Công ty VL toàn bộ giá trị 10 (mười) container hàng hoá là 396.000 USD tương đương 10.478.160.000 đồng (theo tỷ giá bán USD đăng trên website của Ngân hàng Vietcombank ngày 13/7/2026 là 26.460 đồng/1USD) và khoản lãi vay Ngân hàng với số tiền là 1.206.825.666 đồng. Tổng giá trị bồi thường là 11.684.985.666 đồng. … 2.3. …” (Trang 26, 27 của Bản án). Tổng cộng là TH phải liên đới bồi thường hơn 24 tỷ đồng.
 
3. Bình luận Bản án
3.1. Bị đơn TH có “vận chuyển hàng hóa” hay không? (đã bình luận tại bài trước)

3.2. Ai trực tiếp gây ra thiệt hại cho Nguyên đơn? (đã bình luận tại bài trước)
3.3. Bị đơn TH có phải “liên đới bồi thường” hay không? (đã bình luận tại bài trước)   

3.4. Giá trị hàng hóa có được người vận chuyển ghi vào chứng từ vận chuyển hay không?(đã bình luận tại bài trước) 

3.5. Có cần triệu tập những người vận chuyển, người mua hàng và các ngân hàng hay không? (đã bình luận tại bài trước) 

3.6. Vận đơn giả và vận đơn thật (đã bình luận tại bài trước) 

3.7. Các đương sự đã được tiếp cận đầy đủ tài liệu, chứng cứ hay chưa? 

Khoản 3 Điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định như sau: “Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai […] Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định” và theo khoản 8 Điều 70 Bộ luật này thì “Đương sự có quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng. Khi tham gia tố tụng, đương sự có quyền, nghĩa vụ sau đây: “… Được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập […]“


Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 205/QĐ-VKS-KDTM ngày 07/8/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân đối với Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm tuyên ngày 23/7/2026  (“Quyết định kháng nghị”) viết như sau: “… Hội đồng xét xử đã vi phạm đối với quyền được tiếp cận tài liệu, chứng cứ và tranh tụng của đương sự: sau phiên tòa ngày 14/7/2026, Viện kiểm sát ban hành văn bản đề nghị Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ là Bộ chứng từ gốc được công chứng, chứng thực hợp lệ kèm bản dịch thuật. Ngày 22/7/2026, nguyên đơn cung cấp bản dịch của phiếu đóng gói và vận đơn cho Tòa án và Viện kiểm sát. Tại phiên tòa ngày 23/7/2026 đại diện Viện kiểm sát và các bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử cho đương sự tiếp cận chứng cứ này, tuy nhiên Hội đồng xét xử cho rằng đây là các tài liệu chứng cứ đã được nguyên đơn nộp cho Tòa án trước đó, không phải là tài liệu chứng cứ mới, nguyên đơn chỉ hoàn thiện về mặt hình thức để tài liệu chứng cứ đáp ứng quy định tại Điều 95, 96 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét thấy, tài liệu mà nguyên đơn đã cung cấp trong hồ sơ vụ án liên quan đến các bộ chứng từ gốc gồm hợp đồng mua bán, hóa đơn thương mại, tờ khai hàng hóa, vận đơn kèm đơn khởi kiện của nguyên đơn thì đây chỉ là bản sao không phải bản chính kèm bản dịch thuật của các tài liệu này, riêng vận đơn chỉ dịch thuật ở mặt trước, không có mặt sau. Ngày 22/7/2026, nguyên đơn chỉ cung cấp bản dịch thuật đối với phiếu đóng gói hàng hóa và vận đơn bao gồm mặt sau quy định về điều khoản của vận đơn. Như vậy, tài liệu mà nguyên đơn cung cấp vào ngày 22/7/2026 là các tài liệu chứng cứ mới đặc biệt là điều khoản quy định tại mặt sau của vận đơn. Hội đồng xét xử cũng xác định rằng giữa nguyên đơn và bị đơn đã xác lập quan hệ vận chuyển hàng hóa thông qua vận đơn. Từ đó cho thấy, vận đơn là tài liệu quan trọng trong hồ sơ vụ án cần được xem xét đánh giá và được các bên tiếp cận để bảo vệ quyền lợi ích. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử đã không chấp nhận để đương sự có thời gian xem xét và tiếp cận đối với chứng cứ […].” 

Theo Điều 20 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì “Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân sự là tiếng Việt […]”; và khoản 3 Điều 24 của Bộ luật này quy định như sau: “Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai […] Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định” và theo khoản 8 Điều 70 Bộ luật này thì “Đương sự có quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng. Khi tham gia tố tụng, đương sự có quyền, nghĩa vụ sau đây: “… Được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập […]“

Do đó, người viết cho rằng quan điểm của Viện kiểm sát là có cơ sở pháp lý. 


3.8. Việc thu thập, đánh giá tài liệu chứng cứ đã phù hợp với quy định của pháp luật hay chưa? 

Quyết định kháng nghị có đoạn: “Hội đồng xét xử vi phạm trong việc thu thập, đánh giá tài liệu chứng cứ: Trong vụ án, Hội đồng xét xử chỉ xem xét đánh giá thông qua các tài liệu mà nguyên đơn cung cấp là bộ chứng từ gốc và sự thừa nhận của các bên về sự mất mát hàng hóa tại cảng Ningbo Trung Quốc. Tuy nhiên, theo lời trình bày của các bị đơn thì các bị đơn không xác nhận sự việc mất hàng, đối với 04 bị đơn là người môi giới thì trách nhiệm của người môi giới đã chấm dứt kể từ thời điểm Công ty H và Công ty R ký phát hành vận đơn thay cho [02 người vận chuyển]. 04 bị đơn là người môi giới hàng hải đã không còn nhận được bất cứ thông tin nào về lịch trình tàu biển, thời gian đi và đến của tàu biển, kể cả khi xảy ra mất hàng 04 nhà môi giới hàng hải cũng không được thông tin sự việc mất hàng. Đồng thời, Công ty H và Công ty R liên tục đề nghị Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án hình sự ở Trung Quốc liên quan sự kiện mất hàng hóa để làm chứng cứ”.

Bên cạnh đó, theo tài liệu dịch thuật mà nguyên đơn cung cấp ngày 22/7/2026 tại Điều 26 mặt sau của các vận đơn do Công ty H ký thay mặt người vận chuyển N phát hành có nội dung: “Luật và thẩm quyền tòa án – Vận đơn này được điều chỉnh bởi luật pháp của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.  Mọi tranh chấp phát sinh theo hoặc liên quan đến vận đơn này sẽ được giải quyết theo luật của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa…”. Tại mặt trước của vận đơn do Công ty R ký thay mặt người vận chuyển phát hành có nội dung: “Hợp đồng hiện tại được thỏa thuận tuân theo các điều kiện in ở mặt sau và được điều chỉnh bởi Luật và Thẩm quyền tài phán của SINGAPORE. Xem điều khoản 22 ở mặt sau của Vận đơn này… Điều 22 Luật áp dụng và thẩm quyền xét xử – Hợp đồng này sẽ được điều chỉnh và giải thích theo Luật được ghi trên Vận đơn này”. Các bên đã thỏa thuận luật pháp và Tòa án giải quyết tranh chấp liên quan đến vận đơn là các Tòa án ở nước ngoài, tuy nhiên, Hội đồng xét xử đã không xem xét đánh giá chứng cứ này để giải quyết vụ án là chưa toàn diện và các đương sự cũng không được tiếp cận nội dung này”.

Người viết cũng đồng ý với quan điểm nêu trên của Viện kiểm sát.

3.9. Trong trường hợp có điều tra hình sự liên quan đến việc nhận hàng, vụ án được giải quyết như thế nào?  
“… giữa các bên đều xác nhận toàn bộ hàng hóa bị mất là do người nhận hàng đã sử dụng vận đơn giả để nhận lô hàng hóa từ đại lý của các hãng tàu…” (trang 24, Bản án); một bị đơn cho biết tại trang 12 của Bản án như sau: “… việc mất lô hàng của nguyên đơn hiện đang trong quá trình điều tra vụ án hình sự tại Trung Quốc chưa có kết luận…”, và Quyết định kháng nghị có đoạn: “Đồng thời, Công ty H và Công ty R liên tục đề nghị Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án hình sự ở Trung Quốc liên quan sự kiện mất hàng hóa để làm chứng cứ”. 

Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định việc giải quyết vấn đề dân sự (bao gồm cả tranh chấp tài sản, bồi thường thiệt hại xuất phát từ hành vi phạm tội) được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự, cụ thể như sau: “Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.” Xem thêm tại https://lsvn.vn/giai-quyet-van-de-dan-su-trong-vu-an-hinh-su-1715003797-a143389.html

Trong vụ kiện này, tranh chấp thương mại, vận chuyển có liên quan trực tiếp đến hành vi  phạm tội đang bị điều tra (theo như phản ánh nêu trên), có cùng nội dung hành vi có dấu hiệu tội phạm, đó là lừa đảo, dùng vận đơn giả trong việc nhận hàng từ hãng tàu; người viết cho rằng cơ quan tiến hành tố tụng hình sự sẽ thụ lý và giải quyết luôn phần bồi thường thiệt hại, tài sản trong cùng vụ án hình sự đó chứ không cần phải tách rời thành một vụ án kinh doanh, thương mại độc lập; khi một vụ án đang trong quá trình điều tra hình sự, không thể tiến hành xét xử hoặc giải quyết tranh chấp theo thủ tục tố tụng dân sự (kinh doanh, thương mại) đối với cùng nội dung hành vi có dấu hiệu tội phạm đó; và trong trường hợp của vụ kiện này, vấn đề dân sự/thương mại trong vụ án hình sự có điều kiện chứng minh và có ảnh hưởng đến việc giải quyết tội phạm hình sự, cơ quan có thẩm quyền không cần tách ra để giải quyết bằng vụ án dân sự/thương mại theo thủ tục riêng. Tuy vậy, vấn đề này do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự quyết định.

3.10. Khi nào phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án?

Điều 214 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định như sau: “1. Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi có một trong các căn cứ sau đây: … d) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án; đ) Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án”. 

Trong trường hợp có khởi tố, điều tra hình sự tại Trung Quốc liên quan đến việc nhận hàng bằng vận đơn giả và cơ quan điều tra thấy không cần thiết phải tách vụ án thì Tòa án Việt Nam có thể ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết Vụ án kinh doanh thương mại Thụ lý số 148/TB-TLVA ngày 18/6/2025 về “Tranh chấp hợp đồng vận chuyển”, đợi kết quả giải quyết vụ án hình sự nêu trên đây.     


3.11. Xét xử phúc thẩm hay hủy Bản án, giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm?

Quyết định kháng nghị viết: “Từ các nhận định trên, xét thấy việc Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn về việc tuyên buộc các bị đơn liên đới bồi thường trị giá hàng hóa bị mất và lãi suất trên cơ sở chưa đảm bảo về mặt thủ tục tố tụng, vi phạm trong việc thu thập, đánh giá tài liệu, chứng cứ là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” và Viện kiểm sát quyết định: “1. Kháng nghị toàn bộ Bản án kinh doanh thương sơ thẩm tuyên ngày 23/7/2026 của Tòa án nhân dân […] theo thủ tục phúc thẩm. Đề nghị Tòa Phúc thẩm – Tòa án nhân dân […] xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng hủy Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm tuyên ngày 23/7/2026 của Tòa án nhân dân […], chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.”

Tòa Phúc thẩm sẽ xem xét vấn đề nêu trên trong thời gian tới.  

—Hết—

Ngô Khắc Lễ | Viện VLI