Trách nhiệm bồi thường theo chuỗi vận chuyển và vô hiệu do vô tình
vlimonamedia
25/02/2026
Khi người ký hợp đồng vận chuyển nhưng không vận chuyển trên thực tế mà ký tiếp hợp đồng cho người vận chuyển tiếp theo thì trách nhiệm được chuyển cho người vận chuyển kế tiếp trong trường hợp nào và thế nào là vô hiệu do nhầm lẫn là hai vấn đề chính trong bản án phúc thẩm số 08/2023/KDTM-PT đã có hiệu lực pháp luật mà Hội đồng xét xử tuyên án ngày 22/8/2023 (với độ dài khoảng 14 trang A4 cỡ chữ thông thường) được tóm tắt cùng một số nội dung chính dưới đây để bạn đọc tham khảo.

Nội dung vụ án: Tổng công ty bảo hiểm (“B”) và Công ty cổ phần (“H”) ký kết hợp đồng bảo hiểm, theo đó, B nhận bảo hiểm cho lô hàng 147 cuộn, 2.877,505 tấn tôn cán nguội của H, phương tiện vận chuyển là tàu biển theo hợp đồng dịch vụ vận chuyển hàng hóa về việc vận chuyển tôn cán nguội giữa H và Công ty vận tải biển (“V”), hải trình từ Vũng Tàu đến cảng Thanh Hóa, mức bồi thường bảo hiểm là 110% trị giá hàng hóa bị tổn thất, trị giá bảo hiểm là 44.996.881.246 đồng. Khi tàu biển đến cảng đích ở Thanh Hóa, đã phát hiện có tổn thất hàng hóa với số lượng là 17 cuộn (tôn cán nguội), trị giá 1.948.659.372 x 1,1 x 1,1= 2.357.877.840 đồng (đã bao gồm thuế GTGT); chi phí sản xuất hàng hoá bị tổn thất thành phẩm để bán cứu vớt 439.640.134 đồng (đã bao gồm thuế GTGT); số tiền thu hồi bán cứu vớt: 2.037.260.470 đồng (đã bao gồm thuế GTGT); chi phí giám định: 37.680.500 đồng; tổng tổn thất sau khi bán hàng giảm cấp: (2.357.877.840 đồng + 439.640.134 đồng) – 2.037.260.470 đồng + 37.680.500 đồng = 797.938.004 đồng (đã bao gồm thuế GTGT).
Trên cơ sở kết quả giám định tổn thất của chứng thư giám định, H xác định số tiền bồi thường tương đương với 120% giá trị hàng hoá bị tổn thất sau khi đã khấu trừ tiền bán thu hồi (đã bao gồm thuế GTGT), cụ thể như sau: (1.948.659.372 đồng x 1,1 x 1,2) đồng + 439.640.134 đồng – 2.037.260.470 đồng (tiền bán hàng thu hồi) = 974.610.035 đồng. H đã gửi Danh mục thông báo bồi thường, Giấy yêu cầu bồi thường đề nghị (i) B phải trả số tiền bảo hiểm là 760.257.504 đồng, tương ứng 110% trị giá thiệt hại; và (ii) V bồi thường số tiền 214.352.531 đồng, tương ứng 10% thiệt hại.
Chuỗi các công ty vận chuyển bao gồm: V không trực tiếp vận chuyển mà ký tiếp hợp đồng vận chuyển với Công ty V1 (“V”), V1 tiếp tục ký hợp đồng vận chuyển với Công ty V2 (“V2”), V2 cũng không trực tiếp vận chuyển mà đã ký hợp đồng với Công ty V3 (“V3”), V3 đã ký hợp đồng vận chuyển với Công ty V4 (“V4”). Như vậy, V ký hợp động vận chuyển với H nhưng thực tế vận chuyển là do V4 tiến hành. Việc V ký hợp đồng vận chuyển với V1 không được sự đồng ý của H nên Công ty V không được chuyển nghĩa vụ của Công ty V1 cho Công ty H. Sau khi nhận được kết luận giám định tổn thất, V, H và V4 đều không có ý kiến gì về nguyên nhân thiệt hại và kết quả giám định.
Sau khi B đã bồi thường xong cho H số tiền 760.257.504 đồng và được H làm giấy biên nhận và thế quyền, chuyển quyền cho B để khởi kiện, B khởi kiện V và V4 để yêu cầu bồi hoàn số tiền do thiệt hại về hàng hóa mà B đã chi trả cho H. Căn cứ các chứng thư giám định, biên bản ghi nhận hiện trường, biên bản họp, lời trình bày của nguyên đơn, thừa nhận của bị đơn và xác nhận của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Tòa thấy rằng lỗi dẫn đến thiệt hại hàng hoá thuộc về chủ tàu V4. V4 là người vận chuyển thực tế, nên phải có nghĩa vụ bồi thường theo quy định tại Điều 77 Bộ luật Hàng hải Việt Nam nhưng V4 bồi thường cho V3; V3 bồi thường cho V2; V2 bồi thường cho V1; V1 bồi thường cho V và V phải bồi thường cho H.
Do hiểu nhầm yêu cầu bồi thường với số tiền 214.352.531 đồng của H chính là tổng số tiền mà V phải trả cho H nên V đã có văn bản yêu cầu các công ty vận tải thứ cấp bồi thường số tiền 258.316.544 đồng. Sau khi nhận được yêu cầu bồi thường, thông qua hình thức cấn trừ công nợ giữa các bên, V4, V1, V2, V3 đã chuyển số tiền 258.316.544 đồng cho V để bồi thường cho H.
Trong vụ án này Công ty V, V1, V2, V3 không có đơn yêu cầu bồi thường nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là đúng quy định tại Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự. H đã thế quyền yêu cầu bồi thường của người thứ 3 cho B nên V phải bồi thường cho B toàn bộ tổn thất hàng hoá, tương ứng số tiền 797.938.004 đồng mà B đã chi trả cho H.
Thỏa thuận vô hiệu: Tại thời điểm Công ty V với Công ty V1; giữa Công ty V1 với Công ty V2; giữa Công ty V2 với Công ty V3; giữa Công ty V3 với Công ty V4 thỏa thuận bồi thường cho Công ty H thì Công ty H, Công ty B chưa làm rõ được trách nhiệm và nghĩa vụ bồi thường của Công ty V dẫn đến Công ty V nhầm lẫn trong việc đưa ra yêu cầu bồi thường thiệt hại nên thỏa thuận trên bị coi là vô hiệu do nhầm lẫn theo Điều 126, Bộ Luật Dân sự. Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm tuyên vô hiệu đối với thỏa thuận bồi thường số tiền 258.316.544 đồng giữa Công ty V, Công ty V1, Công ty V2, Công ty V3 và Công ty V4 là có căn cứ. Việc thỏa thuận này bị vô hiệu nên các đương sự có quyền thỏa thuận lại. Trường hợp không chấp nhận thỏa thuận lại thì các công ty có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
Chấp nhận của Hội đồng xét xử: Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của V (Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ vận tải V). Sửa Bản án sơ thẩm số 13/2022/KDTM-ST của Tòa án nhân dân thị xã P theo hướng: Buộc V phải bồi thường cho B số tiền 797.938.004 đồng. Nếu V, V1, V2, V3, V4 không thỏa thuận được trách nhiệm bồi thường thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của B được chấp nhận nên V phải chịu án phí tương ứng với số tiền phải trả cho B. Án phí được tính là: 20.000.000 đồng + 4% x (797.938.004 – 400.000.000) đồng = 35.917.520 đồng.
Do yêu cầu độc lập của V về việc tuyên vô hiệu đối với thỏa thuận bồi thường được chấp nhận nên V4 phải chịu án phí 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại không có giá ngạch. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của N được chấp nhận một phần và bản án sơ thẩm bị sửa nên N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA: Áp dụng khoản 2 Điều 308; khoản 2 Điều 148; các Điều 5, 26, 35, 40, 68, 227, 228, 271, 272, 273, 296 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 126, 132, 370 của Bộ luật dân sự; các Điều 118, 326 của Luật hàng hải; Điều 17 của Luật kinh doanh bảo hiểm; các Điều 26, 27, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của V (Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ vận tải V). Sửa Bản án sơ thẩm số 13/2022/KDTM-ST ngày 08/12/2022 của Tòa án nhân dân thị xã P.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của B (Tổng công ty cổ phần B) đối với V (Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ vận tải V) về việc “Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hoá”. 1. Buộc Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ vận tải V phải bồi thường cho Tổng công ty cổ phần B số tiền 797.938.004 đồng; 2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ vận tải V. Tuyên bố vô hiệu đối với thỏa thuận bồi thường số tiền 258.316.544 đồng giữa V (Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ vận tải V), V1 (Công ty cổ phần V1), V2 (Công ty TNHH V2), V3 (Công ty TNHH Vận tải V3) và Công ty Cổ phần V4. Nếu Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ vận tải V, Công ty cổ phần V1, Công ty TNHH V2, Công ty TNHH Vận tải V3 và Công ty Cổ phần V4 không thỏa thuận được trách nhiệm bồi thường thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự.
Ngô Khắc Lễ
Nhãn
Bài viết nổi bật
Việt Nam trở thành ‘ngôi sao đang lên’ về thu hút FDI
30/01/2026
Tin tức
“Ba mũi tiến công” cho doanh nghiệp
24/02/2026
Tin tức